KỲ 8: NỀN TẢNG LỊCH SỬ VÀ GIẢI PHÁP THỰC TIỄN MÔ HÌNH CHÒM SAO GIA ĐÌNH CỦA BERT HELLINGER (PHẦN 2)

PHẦN 2 | Bert Hellinger và liệu pháp Chòm Sao Gia Đình (Family Constellations).
🌸 THÔNG TIN TIỂU SỬ
Bert Hellinger sinh năm 1925 và mất năm 2019. Sau khi học triết học, thần học và giáo dục, ông trở thành một linh mục. Ông đã đến Nam Phi và làm việc ở đó 16 năm với tư cách là thành viên của một dòng truyền giáo Công giáo trong cộng đồng người Zulu. Hellinger từng là hiệu trưởng của một số trường học, bao gồm một trường học cho người da đen châu Phi ở Natal. Những trải nghiệm của ông khi đối xử với mọi người ở đó được phản ánh trong cách ông làm việc. Ông đã từng kể lại rằng: "Một người Zulu sẽ không bao giờ đặt bất kỳ ai vào tình huống khó xử và mọi người đều giữ được long tự trọng của mình. Tôi cũng vô cùng ấn tượng bởi thẩm quyền hoàn toàn tự nhiên của cha mẹ người Zulu đối với con cái của họ, ví dụ, tôi chưa bao giờ nghe thấy bất kì ai nói chuyện thiếu tôn trọng về cha mẹ của họ”. Chính thông qua bối cảnh công việc giáo dục của mình của mình, Hellinger đã có được những hiểu biết sâu sắc về cách các nhà trị liệu động lực nhóm cũng như những người phục vụ trong các nhóm đa tôn giáo mà không có bất kỳ rào cản chủng tộc nào làm việc hiệu quả ra sao.
Khi trở về Đức năm 1969, Hellinger đã sử dụng kinh nghiệm của mình trong công việc động lực nhóm vào công việc trị liệu của mình. Cho đến đầu những năm 1970, ông quyết định rời khỏi dòng tu và cuộc đời linh mục của mình và chuyển sang tâm lý trị liệu. Ông được đào tạo như một nhà phân tâm học ở Vienna. Tuy nhiên, sau khi thuyết trình trước Hiệp hội phân tâm học, trong đó ông ca ngợi nhà phân tích và nhà tâm lý học Arthur Janov và công trình của ông, vốn không theo quy ước và mang tính cách mạng vào thời điểm đó, Hellinger đã bị Hiệp hội làm mất uy tín. Sau đó, ông đã dành nhiều thời gian để học tập tại Hoa Kỳ, bao gồm chín tháng với Janov ở Los Angeles để nghiên cứu liệu pháp Trị liệu Nguyên thủy (Primal Therapy). Con đường đến với hình thức tâm lý trị liệu của riêng mình đã dẫn ông đến gặp gỡ vô số hình thức trị liệu khác nhau, bao gồm liệu pháp Gestalt, Phân tích giao dịch và kịch bản của Eric Berne, và sau đó là liệu pháp gia đình, liệu pháp khiêu khích của Frank Farelly, và cuối cùng là liệu pháp thôi miên của Milton Erickson.
Cuộc gặp gỡ với công trình của nhà phân tâm học và nhà trị liệu nhóm Eric Bene đã có tác động sâu sắc đến sự phát triển cách tiếp cận trị liệu của Hellinger. Eric Berne đã phát triển liệu pháp Phân tích giao dịch - nghiên cứu giao tiếp giữa con người và các mô hình động lực tâm lý cơ bản cấp thấp. Phân tích giao dịch giả định ba nhu cầu cơ bản của con người là: nhu cầu được yêu thương, nhu cầu cấu trúc thời gian và nhu cầu kích hoạt. Cụ thể là một cá nhân sẽ điều chỉnh cuộc sống và những đòi hỏi của mình theo cách những nhu cầu cơ bản này đã được đáp ứng trong thời thơ ấu của anh ta. Theo Eric Bene, trong thời thơ ấu, đứa trẻ đã vạch ra một kịch bản cho cuộc đời mà nó có thể tuân theo và theo đó cuộc sống của nó được định hình. Những ý tưởng của cá nhân được thể hiện một phần qua việc lựa chọn câu chuyện cổ tích yêu thích của anh ta, câu chuyện có chứa các yếu tố phù hợp với đứa trẻ thời thơ ấu. Những câu chuyện cổ tích, thần thoại hoặc truyền thuyết chứa đựng những trải nghiệm quen thuộc với mọi người ở mức độ nhiều hơn hoặc ít hơn. Đối với liệu pháp Phân tích giao dịch, việc lựa chọn chủ đề của những câu truyện bắt nguồn từ lịch sử cuộc đời của cá nhân và những thông điệp mà đứa trẻ nhận được từ cha mẹ và môi trường từ khi còn nhỏ. Nhưng khi làm việc với các nhóm thân chủ của mình, Hellinger đã quan sát thấy rằng lời giải thích này không phải lúc nào cũng đúng. Trong kịch bản, có những chủ đề đôi khi vượt ra ngoài trải nghiệm lịch sử cuộc đời của chính một người và bắt nguồn từ các thế hệ đi trước trong gia đình và mối quan hệ khác. Điều này đã cung cấp cho Hellinger động lực để bổ sung thêm một chiều kích hệ thống vào phân tích kịch bản cuộc đời của một thân chủ. Ông phát hiện ra rằng nhiều câu chuyện không có mối liên hệ với cá nhân than chủ, mà thay vào đó là với những người khác, và đặc biệt là với các thành viên trong gia đình. Việc giải quyết một kịch bản cuộc đời chứa đựng nhiều đau khổ có thể được thực hiện khả thi bằng cách giải quyết sự đồng nhất giữa thân chủ với một người từ hệ thống của anh ta bằng cách để cho người này nhận được vị trí chính xác của mình trong gia đình và sự tôn trọng mà họ xứng đáng với tư cách là một thành viên của hệ thống.
Hellinger cũng đã được truyền cảm hứng để nhận ra sự cần thiết và tầm quan trọng của phát hiện về “lòng trung thành vô hình” của Ivan Boszormenyi-Nagy trong quá trình tạo ra mô hình trị liệu của riêng mình. Và rồi từ phương pháp trị liệu thôi miên do Milton Erickson phát triển và các quy trình trị liệu thôi miên cổ điển khác nhau lúc bấy giờ, Hellinger đã rút ra phương pháp kể chuyện và quan sát chi tiết các tín hiệu phi ngôn ngữ thường không tương ứng với các thông điệp bằng lời nói. Theo ông, điều quan trọng đối với nhà trị liệu là phải tuân theo cách tiếp cận của Erickson, người đã nhận ra và chấp nhận mỗi cá nhân như chính con người họ và cố gắng gặp gỡ người đó bằng ngôn ngữ và hệ thống tham chiếu của riêng họ. Do đó, các thông điệp quan trọng có thể được phân biệt với những thông điệp bắt nguồn từ các cấp độ thấp hơn của tâm hồn và tương ứng với cấu trúc vô hình của những rối rắm gia đình mà tư duy lý trí không thể nắm bắt được. Hellinger đã không ngừng nghiên cứu, lâm sàng và điều chỉnh phương pháp của mình đến mức ông có thể cùng với thân chủ của mình đạt được hiệu quả trị liệu trong một khoảng thời gian rất ngắn, thường không quá 10 đến 20 phút trong một phiên làm việc. Bert Hellinger sau đó trở về sống ở miền Nam nước Đức. Ông đã từ bỏ phòng khám tư nhân của mình và không còn trực tiếp làm việc với các nhóm trị liệu nữa mà tập trung vào các hội thảo đào tạo quy mô lớn trên khắp thế giới.
Bert Hellinger đã phát triển một loại hình công việc tâm lý trị liệu hoàn toàn độc đáo. Đó là việc sử dụng các giải pháp, đặc biệt là liệu pháp Chòm sao gia đình, trong đó thân chủ tái hiện bức tranh nội tâm của họ về gia đình mình với sự giúp đỡ của các thành viên đóng vai trong một nhóm trị liệu. Phương pháp này của ông dựa trên giả định rằng các rối loạn cảm xúc và bệnh lý tâm căn có thể là do sự xáo trộn trong trật tự của hệ thống gia đình, và gây ra một sự rối rắm hệ thống. Một người trong hệ thống bị kết nối với số phận của một người khác. Nếu sự rối rắm liên quan này được nhận ra và trật tự trong hệ thống được khôi phục, lý do của triệu chứng sẽ bị vô hiệu hóa và sự chuyển hoá được xảy ra. Hellinger cho rằng có một trật tự "đúng đắn" cho một hệ thống gia đình và trật tự này là trật tự phù hợp với mỗi thành viên của hệ thống. Trật tự "đúng đắn" này mang lại cho hệ thống sự bình yên và ổn định và do đó cho phép sự hài lòng của mỗi thành viên trong hệ thống đó. Trong bối cảnh của một giải pháp, dù nó diễn ra trong một gia đình hay trong một bộ phận của công ty hoặc doanh nghiệp, các mối quan hệ bị xáo trộn hoặc đang gây ra xáo trộn sẽ được kiểm tra, và một nỗ lực được thực hiện để khôi phục trật tự này hoặc thậm chí tạo ra nó lần đầu tiên trong thế hệ này. Như Hellinger đã khám phá trong nhiều năm thực hành của mình, trật tự này có thể được xác định bởi một số quy tắc. Tuy nhiên, những quy tắc này có thể bị vi phạm bởi các yếu tố bên ngoài như chiến tranh, sự kiện định mệnh, hoặc các yếu tố như sự loại trừ hoặc bị lên án của các thành viên của hệ thống. Sự xáo trộn cân bằng này có thể tiếp diễn qua nhiều thế hệ.
Trái ngược với liệu pháp Tâm lý kịch của Jacob L. Moreno, trong liệu pháp Chòm sao gia đình của Hellinger không có tình huống cụ thể hoặc hành vi tiềm năng nào được diễn xuất. Mục tiêu của một phiên làm việc Chòm sao gia đình là làm bộc lộ ra những rối rắm vô thức trong hệ thống gốc và bằng cách đó, làm cho chúng có thể hoá giải được. Do đó, Hellinger đưa ra các cấu trúc cơ bản của hệ thống làm cho than chủ bị bệnh hoặc là một yếu tố gây rối loạn trong sự phát triển cảm xúc của thân chủ. Phiên trị liệu hướng tới mục đích tạo ra sự hòa giải với cha mẹ và các thế hệ trước và hướng tới công lý, có nghĩa là duy trì quyền của mỗi thành viên được thuộc về hệ thống. Hellinger sử dụng từ "hiện tượng học" để mô tả cách tiếp cận của mình. Nó không dựa trên một mô hình lý thuyết mà thay vào đó tuân theo các hiện tượng xuất hiện trong phiên thực hành thiết lập một chòm sao gia đình và dòng tộc. Những hiện tượng này là các thông điệp phi ngôn ngữ của thân chủ mà nhà trị liệu quan sát được trong cuộc phỏng vấn trước khi vào phiên, và đặc biệt, thông qua các phát ngôn của những người đại diện đóng vai cho các thành viên gia đình và chia sẻ về cách họ cảm thấy, cảm giác cơ thể của họ, và những suy nghĩ của họ về mối quan hệ của họ khi họ đang trong vai của mình.
🌸 TRÌNH BÀY SƠ LƯỢC VỀ MÔ HÌNH LÀM VIỆC GIẢ ĐỊNH CỦA BERT HELLINGER VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ
✍️ Sự ràng buộc và các mối quan hệ
Bert Hellinger chỉ ra rằng một đứa trẻ được sinh ra trong một gia đình, nó là một phần của mạng lưới các mối quan hệ ngay từ đầu. Đứa trẻ nhận được những gì nó cần để tồn tại và học cách sống với những người khác trong gia đình, phần lớn là cha mẹ và anh chị em của nó. Đứa trẻ cũng học cách xác định các quy tắc của gia đình như các quy tắc của riêng mình. Tuy nhiên, còn có một mối ràng buộc sâu sắc trong hệ thống này có tính thấm sâu hơn nhiều. Hellinger đã nghiên cứu các chiều kích của sự thuộc về này trong bối cảnh thực hành của mình và sử dụng từ "trật tự" để mô tả về nó. Trật tự này có hiệu lực cho dù chúng ta có nhận thức được nó hay không. Trong các mối quan hệ có những điều kiện cơ bản đặt ra các ràng buộc đối với các đối tác. Hellinger đề cập đến ba trong số những ràng buộc cần thiết để mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái thành công, đó là: sự ràng buộc, sự cân bằng giữa cho và nhận và trật tự.
Để duy trì lòng trung thành vô hình mạnh mẽ trong một gia đình, con cháu muốn giữ lại những thành viên muốn rời đi, hoặc chúng sẽ cố gắng “đi theo” họ. Nó cũng dẫn đến việc những người có lợi thế, một cách vô thức, sẽ chia sẻ số phận với những người có bất lợi trong gia đình, và chia sẻ trách nhiệm đối với sức khỏe, hạnh phúc, sự vô tội và cuộc sống của những thành viên kém may mắn hơn trong gia đình của họ. Do đó, những người có lợi thế thường mạo hiểm về sức khỏe và cuộc sống của họ theo niềm hy vọng kỳ diệu rằng bằng cách từ bỏ hạnh phúc của chính mình và cuộc sống của chính mình, họ có thể cứu được cuộc sống và hạnh phúc ai đó trong gia đình.
✍️ Trật tự
Một yếu tố quan trọng được Hellinger giới thiệu là tính trật tự trong hệ thống. Nó dựa trên một trật tự thời gian rằng: những người có mặt trước có quyền ưu tiên hơn những người đến sau. Trong chính các hệ thống, điều này là khác. Hệ thống hiện tại, tức là gia đình hiện tại hoặc mối quan hệ hiện tại, có quyền ưu tiên hơn hệ thống trước đó. Điều này ngụ ý rằng các mối quan hệ quan trọng mà cha mẹ có thể đã có, chẳng hạn như các cuộc hôn nhân hoặc đính hôn trước đây, cần được công nhận như vậy. Trật tự cũng có nghĩa là sự phân tách giữa các thế hệ cần được tôn trọng. Cha mẹ đứng cạnh nhau và các con đứng cùng nhau, nhưng ở một hàng khác với cha mẹ, và thứ tự sinh của anh chị em cũng cần được duy trì. Không ai có thể bị loại trừ, có nghĩa là không có thành viên nào có thể bị từ chối vị trí chính đáng của mình trong hệ thống kể cả khi người đó còn sống hay đã chết. Nếu một trật tự bị xáo trộn, các thế hệ tiếp theo sẽ đảm nhận nhiệm vụ để đạt được sự bù đắp cho trật tự bị xáo trộn này.
Trật tự này phải được duy trì, cũng như sự phân tách giữa các thế hệ phải được tôn trọng. Theo Hellinger, việc không tôn trọng trật tự có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng. Ví dụ, khi một đứa trẻ cho là mình biết và phán xét những vấn đề riêng tư giữa cha mẹ, nó vô thức đang đặt mình lên trên cha mẹ. Sự vi phạm trật tự ưu tiên kiểu như này thường dẫn đến những bi kịch gia đình (tai nạn nghiêm trọng, tự tử, vv…). Ông cũng ghi nhận rằng khi một thành viên của gia đình ở vị trí thấp hơn trong hệ thống phân cấp tự đặt mình vào vị trí của người ở vị trí cao hơn, người đó vô thức phản ứng với xung lực muốn thất bại, không hạnh phúc và chịu bất hạnh.
Các giải pháp giúp xác định nhanh chóng các cấu trúc quan hệ hệ thống và tìm ra giải pháp. Trong quá trình đó, hành vi và phát ngôn của thân chủ đại diện cho một loạt "lòng trung thành vô hình" có tính ăn sâu. Những thay đổi trong cấu trúc này dẫn đến những thay đổi trong hành vi, suy nghĩ, và đến lượt nó, trong cảm xúc. Theo các nguyên lý hệ thống, một sự thay đổi ở thân chủ cũng sẽ mang lại sự thay đổi trong môi trường xung quanh của anh ta. Trong các khái niệm cơ bản của công việc trị liệu này, Hellinger phân biệt giữa rối rắm hệ thống, nguồn gốc của nó thường nằm ở một thế hệ trước (nếu không phải là vấn đề rối rắm giữa các anh chị em, điều xảy ra ít thường xuyên hơn) và chuyển động hướng tới bị gián đoạn, dựa trên lịch sử cuộc đời của cá nhân. Trong trường hợp rối rắm hệ thống trong một giải pháp, Hellinger sử dụng giải pháp gia đình để đạt được giải pháp. Đối với chuyển động hướng tới bị gián đoạn, ông khuyên dùng Trị liệu Nắm giữ (Holding Therapy) được phát triển bởi Irina Prekop (xem 1991). Thay vào đó, ông sử dụng phương pháp giải pháp gia đình, nhưng cho phép một mối quan hệ mới xuất hiện trong các giải pháp với cha hoặc mẹ, những người được đại diện bởi những người thay thế.
✍️ Rối rắm hệ thống
Điều này có nghĩa là các thành viên của hệ thống có thể bị rối rắm vào số phận của các thành viên khác mà không hề hay biết bởi lòng trung thành vô thức. Các tác động định mệnh của lòng trung thành của họ mạnh nhất khi nó bắt nguồn từ tình yêu của một đứa trẻ dành cho cha mẹ mình, hoặc khi đó là lòng trung thành giữa anh chị em hoặc giữa vợ chồng, nhưng một lòng trung thành đặc biệt cũng được duy trì bởi những người đã đạt được lợi ích từ những người phải rời đi. Những tuyên bố này của Hellinger giúp cung cấp manh mối về nơi có thể tìm thấy những rối rắm khi kiểm tra một hệ thống gia đình.
Rối rắm hệ thống cũng có nghĩa là thân chủ đã tiếp nhận các món nợ từ hệ thống gia đình của họ và từ các thế hệ trước, chẳng hạn như tội lỗi hoặc các món nợ đạo đức theo định nghĩa của Ivan Boszormenyi-Nagy, mà không hề bắt nguồn từ lịch sử cuộc đời cá nhân của họ. Họ bị ràng buộc để phấn đấu cho một trạng thái cân bằng trong hệ thống và dành toàn bộ năng lượng và thậm chí toàn bộ cuộc sống của họ cho mục đích này. Ivan Boszormenyi-Nagy gọi điều này là "tài khoản nợ liên thế hệ" (sổ cái của gia đình), mà thân chủ sẵn sàng cân bằng do cam kết lòng trung thành của họ đối với gia đình.
Trong một phiên trị liệu Chòm sao gia đình, các thành viên đã bị loại trừ có thể được trao trả lại vị trí của họ trong hệ thống. Lúc này sự tồn tại của họ được thừa nhận thông qua các câu nói chữa lành và những cử chỉ tôn trọng. Người ta cho rằng hình ảnh này sẽ tiếp tục có tác động đến tâm trí của thân chủ ngay cả sau khi phiên trị liệu kết thúc và do đó góp phần vào sự chữa lành của họ. Điều này cũng đúng đối với việc tiếp tục và hoàn thành một chuyển động trước đó đã bị gián đoạn của một đứa trẻ nhỏ hướng tới mẹ hoặc cha (tôi sẽ nói kĩ hơn về khái niệm này ở phần phía sau). Với những can thiệp trị liệu này, sự lo lắng và vết thương trước đó do mất mát và chia ly gây ra có thể được chữa lành hoặc giảm bớt ngay lập tức.
Rối rắm hệ thống còn có nghĩa là một người tiếp nhận số phận của một (nhiều) người khác hoặc dành cuộc đời của mình để bị cuốn vào ký ức về người đó. Ví dụ, một đứa trẻ có thể giúp số phận của người mẹ đã chết được tiếp tục. Trong nhiều gia đình, những vòng lặp này có thể được lần ngược qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, Hellinger không tính đến quá ba đến bốn thế hệ, vì theo ông, phải có một điểm mà tại đó quá khứ có thể được ngủ yên. Trong một phiên trị liệu Chòm sao gia đình, Hellinger đã quan sát thấy ba loại động lực cơ bản trong yếu tố rối rắm hệ thống đó là: sự đồng nhất hoá, đi theo và tiếp nhận.
✍️ Đồng nhất hoá
Trong các tài liệu về phân tâm học, hiện tượng đồng nhất hoá được định nghĩa là một quá trình tâm lý mà qua đó chủ thể đồng hóa một khía cạnh, thuộc tính hoặc đặc điểm nào đó của người kia và được biến đổi (toàn bộ hoặc một phần) theo mô hình mà người kia truyền đạt. Thông qua sự đồng nhất hoá với một người trước đó, đứa trẻ như thể đang duy trì ký ức về người bị loại trừ bằng cách thể hiện sự hiện diện hoặc năng lượng của người đó trong hệ thống thông qua sự đau khổ/ mắc kẹt của mình.
Có thể quan sát thấy rằng người bị ảnh hưởng không còn hoàn toàn là chính mình nữa mà bị đồng nhất với một người khác. Bị đồng nhất có nghĩa là bạn có cảm xúc của người mà bạn đồng nhất nhưng bạn cảm thấy một hành động như thể cảm xúc của người đó là của bạn. Bạn không coi họ như một thực thể riêng biệt. Những lý do có thể cho sự đồng nhất là người này đã bị loại khỏi hệ thống, hoặc đứa trẻ, hiện là thân chủ, đang chuộc tội cho sự vi phạm hệ thống hoặc cho một sự bất công với tư cách là đại diện của thế hệ trẻ nhất thay mặt cho người từ thế hệ trước. Thường thì người này không được thân chủ biết đến hoặc chỉ tồn tại trong gia đình như một điều cấm kỵ hoặc một bí mật gia đình. Hellinger đã từng trình bày rằng: “Bạn không cần phải biết những người mà bạn vô thức đồng nhất. Sự ép buộc đồng nhất bắt nguồn từ hệ thống, và nó hoạt động mà không cần bạn biết những người bạn đang đại diện". Không chỉ những đứa trẻ, những thân chủ sau này, mới trải nghiệm bản thân trong nhận thức của mình hoặc thông qua sự đau khổ của mình rằng "có điều gì đó không ổn nhưng tôi không biết tại sao".
Tác động của sự đồng nhất, giống như bất kỳ rối rắm hệ thống nào khác, bao gồm các sự kiện hoặc cảm xúc ngăn cản thân chủ sống cuộc sống của chính mình. Nó có thể biểu hiện như một bệnh lý tâm căn hoặc một rối loạn cảm xúc, thậm chí là rối loạn tâm thần cũng như trong các trạng thái mà thân chủ trải nghiệm là không hòa hợp với bản ngã mà họ thường cảm nhận. Họ mô tả điều này bằng những từ như "Cứ như thể tôi đang đứng bên cạnh chính mình" hoặc "Tôi đơn giản không thể hiểu những gì tôi vừa làm". Một hậu quả nữa của sự đồng nhất là sự xáo trộn của một mối quan hệ, vì cả rối rắm hệ thống và chuyển động hướng tới bị gián đoạn đều ảnh hưởng đến sự sẵn sàng và/hoặc khả năng của một người để bước vào và duy trì một mối quan hệ lâu dài với người khác. Hellinger cho rằng mọi nỗ lực để tìm ra điều gì không ổn sẽ thất bại trừ khi sự đồng nhất được nhận ra và giải quyết. Chỉ khi đó, một mối quan hệ tích cực mới có thể bắt đầu. Những người bị đồng nhất với người khác đang sống trong một thế giới xa lạ và không còn có thể phản ứng như chính họ là. Họ xa lạ với chính mình, và không nhìn thấy đối tác của họ như họ thực sự là, mà như những người xa lạ.
Với cách thực hiện trong Chòm sao gia đình, Hellinger mang đến cơ hội để thừa nhận người mà thân chủ đồng nhất và giải quyết sự đồng nhất. Cũng như trong trường hợp một người đi theo một người khác, thân chủ được yêu cầu nói một trong những câu hóa giải xác định rõ ràng sự rối rắm với người được đề cập.
✍️ Đi theo
Nếu các thành viên trong gia đình ruột thịt, chẳng hạn như anh trai hoặc cha mẹ, đã chết một cách không đúng lúc, dù họ có bị giết trong chiến tranh, do tai nạn hay vì bệnh tật, thì có xu hướng anh chị em hoặc con cái của họ đi theo họ vào bất hạnh hoặc cái chết. Điều này có thể biểu hiện như một xu hướng thực sự hướng tới cái chết như tai nạn hoặc cố gắng tự tử, hoặc một cách tượng trưng, trong đó người đó trở nên ốm yếu và bằng cách đó quay lưng lại với cuộc sống hoặc không tận dụng những khả năng có sẵn trong cuộc sống của chính mình. Khái niệm về bản năng chết của Sigmund Freud nghe giống như một phiên bản đầu tiên của mô tả này, như thể đó là một xung lực hướng vào chính người đó.
✍️ Tiếp nhận
Khi cha mẹ đi theo những người khác, lòng trung thành khiến con cái của họ tiếp nhận việc tìm kiếm sự cân bằng, cũng như số phận của họ, và chúng tuân theo câu nói không lời và thường vô thức: "Tốt hơn là con nên đi hơn là bố/me". Bằng cách đó, đứa trẻ giúp gánh chịu số phận của cha mẹ mình. Một hành vi tương tự được điều khiển bởi lòng trung thành của đứa trẻ đối với hệ thống có thể được quan sát thấy trong các gia đình mà cha mẹ đang xa cách nhau. Một đứa trẻ bị ốm, bắt đầu ăn cắp, hoặc học kém ở trường, điều này dẫn đến cả cha và mẹ sẽ hướng sự chú ý của họ đến chúng, người đang biểu hiện một vấn đề trên bề mặt. Ở cấp độ sâu hơn, đứa trẻ sẵn sàng đảm bảo sự liên đới của gia đình ngay cả với cái giá phải trả là hạnh phúc của chính mình.
✍️ Chuyển động hướng tới bị gián đoạn
Một chuyển động hướng tới bị gián đoạn được định nghĩa là sự rút lui cảm xúc của đứa trẻ do sự thất vọng sâu sắc lặp đi lặp lại trước sự không thể tiếp cận về mặt cảm xúc của mẹ hoặc cha. Điều này có thể là kết quả của sự mất mát thực sự của cha mẹ, do chia ly khỏi cha mẹ, hoặc do sự vắng mặt về mặt cảm xúc của cha/mẹ. Nếu cha mẹ tự bị rối rắm về mặt hệ thống và sử dụng năng lượng sống của họ để tìm kiếm sự cân bằng trong hệ thống gốc của họ, họ sẽ không có mặt cho đứa trẻ với tư cách là cha mẹ. Sự gián đoạn có thể xảy ra hoàn toàn ngoài ý muốn và trái với ý muốn (về mặt ý thức) của cha mẹ. Ví dụ, nếu đứa trẻ phải nằm viện một thời gian và điều này dẫn đến sự gián đoạn tiếp xúc giữa nó và cha mẹ vì họ không thể đến thăm nó, điều này có thể dẫn đến chuyển động hướng tới bị gián đoạn từ phía đứa trẻ. Điều này cũng đúng đối với tình huống người mẹ bị ốm dài ngày và không thể ở bên cạnh đứa con của mình.
Mặt khác, nếu một cha mẹ vắng mặt, có vẻ như chuyển động hướng tới bị gián đoạn có thể được ngăn chặn nếu một cha mẹ đại diện cho cha mẹ kia với sự tôn trọng và danh dự và nói về người đó với đứa trẻ một cách yêu thương. Dựa trên tình yêu sâu sắc, mà Hellinger gọi là tình yêu nguyên thủy hoặc tình yêu sơ cấp, đứa trẻ sẵn sàng làm bất cứ điều gì cho cha mẹ mình. Nếu những nỗ lực hoặc tình cảm của nó bị từ chối, không được tôn trọng hoặc không được đáp lại do sự vắng mặt về mặt cảm xúc của cha hoặc mẹ, tình yêu dành cho cha mẹ sẽ biến thành nỗi đau. Đó là một quan sát cơ bản quan trọng, rằng hầu hết nỗi đau cảm xúc là tình yêu bị gián đoạn, và rằng nỗi đau này thực sự là một khía cạnh khác của tình yêu. Mặc dù nỗi đau thực sự là một hình thức của tình yêu, nó dữ dội đến nỗi đứa trẻ rất miễn cưỡng cảm thấy nó. Đứa trẻ không còn cố gắng đến gần cha mẹ nữa, cũng không sẵn sàng tiếp tục làm như vậy. Cuối cùng, đứa trẻ hoàn toàn từ chối thực hiện thêm bất kỳ nỗ lực nào để bảo vệ mình khỏi nhiều đau đớn hơn. Sau đó, thân chủ muốn có ít liên quan nhất có thể với mẹ hoặc cha của mình, người đã làm tổn thương họ. Họ không có điều gì tốt đẹp để nói về họ, cắt đứt liên lạc, hoặc không có bất kỳ cảm xúc nào (dù tích cực hay tiêu cực) về cha mẹ của họ, điều này có thể được hiểu là sự kìm nén hoặc đóng băng cảm xúc. Tình yêu giữa cha hoặc mẹ và con cái không còn chảy nữa. Trong trị liệu, dòng chảy này có thể được khôi phục, và kết quả là, một mối ràng buộc với thế hệ trước có thể được tạo ra. Điều này có nghĩa là thân chủ sẽ không còn cảm xúc tiêu cực đối với cha mẹ của mình.
✍️ Rối loạn lo âu
Hellinger đã quan sát thấy rằng rối loạn lo âu chủ yếu bắt nguồn từ lịch sử cuộc đời của một người, cho dù sự kiện đó đến từ một chấn thương khi sinh hay một chuyển động hướng tới bị gián đoạn. Theo ông,khi một đứa trẻ bị mất cha hoặc mẹ, nó không trải qua đau buồn, vì não của nó chưa phát triển hoàn thiện để có thể xử lý cảm xúc sâu đậm này. Thay vào đó, nó chuyển sang cảm thấy thịnh nộ. Tuy nhiên, vì nó bị ràng buộc với cả cha và mẹ vì lòng trung thành vô hình sâu sắc của mình, cơn thịnh nộ chuyển thành trạng thái lo âu. Thông qua cảm giác lo âu, đứa trẻ, và sau này là người lớn, tự bảo vệ mình khỏi việc chạm vào những cảm xúc sâu sắc và đau đớn của nỗi đau buồn. Hellinger đề xuất một giải pháp cho thân chủ trong trường hợp này là có thể hướng về cha mẹ của mình một lần nữa và cho phép những cảm xúc đã không được sống vào thời điểm đó hiện diện trọn vẹn và giải phóng. Trong một số trường hợp, có thể quan sát thấy rằng trạng thái lo âu của một người được tiếp nhận từ hệ thống. Ví dụ, nếu cha hoặc ông của thân chủ đã chiến đấu trong chiến tranh, họ có thể bị các cơn hoảng loạn hoặc rối loạn lo âu.
✍️ Cảm xúc
Bert Hellinger phân biệt giữa ba loại cảm xúc: Cảm xúc sơ cấp, cảm xúc thứ cấp và cảm xúc được giả định. Ông sử dụng chúng như các tiêu chí cho quy trình trị liệu của mình. Theo ông, tình yêu mà đứa trẻ dành cho cha mẹ là nền tảng cho mọi thứ, vì vậy nó được coi là tình yêu sơ cấp. Tình yêu sơ cấp này là nền tảng giữa cha mẹ và con cái và không bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ, hành động và sự kiện cho dù chúng ta có thừa nhận nó hay mong muốn nó hay không. Trong liệu pháp Trị liệu Nguyên thủy, trọng tâm là cảm xúc và sự biểu hiện cường độ cao của chúng. Khi làm việc với Trị liệu Nguyên thủy, Hellinger nhận ra rằng những cảm xúc mạnh nổi lên trên bề mặt hầu như luôn được sử dụng để che đậy một cảm xúc khác, cụ thể là tình yêu sơ cấp của đứa trẻ dành cho mẹ cha. Theo ông, cảm xúc tức giận, thịnh nộ, buồn bã và tuyệt vọng thường chỉ phục vụ để ngăn chặn nỗi đau do chuyển động hướng tới bị gián đoạn của một đứa trẻ nhỏ hướng tới cha hoặc mẹ của mình.
Hellinger đưa ra giả thuyết rằng các rối loạn loạn thần kinh có thể được quy cho động lực của tình yêu bị gián đoạn. Những cảm xúc thực tế không được hành động theo hoặc thậm chí có thể không thể tiếp cận được đối với thân chủ. Nhà trị liệu có thể giúp thân chủ tìm thấy điểm mà tại đó chuyển động hướng tới cha hoặc mẹ của anh ta bị gián đoạn và giúp anh ta hoàn thành nó Một khi chuyển động bị gián đoạn của tình yêu được phép hoàn thành, những vấn đề như lo âu, hành vi cưỡng chế, ám ảnh sợ hãi, quá mẫn cảm và các triệu chứng loạn thần kinh khác tự động biến mất và thay vào đó là một sự bình yên sâu sắc và sự mãn nguyện không cần ký do trong tâm hồn của thân chủ.
Mô tả của Hellinger về loại cảm xúc loại thứ ba - cảm xúc được giả định, cung cấp một bức tranh rõ ràng về các rối rắm hệ thống. Trong một sự đồng nhất, cảm xúc được tiếp nhận một cách vô thức từ người khác và hướng về phía ai đó không liên quan gì đến tình huống. Bằng cách này, sự mất cân bằng hệ thống khiến các mối quan hệ chưa được giải quyết từ các thế hệ trước được tiếp nhận vào các mối quan hệ hiện tại. Tất cả điều này xảy ra để phục vụ hệ thống. Tuy nhiên, một sự cân bằng không xảy ra, và dưới hình thức này hay hình thức khác, nó được truyền sang thế hệ tiếp theo.
🌸 SỬ DỤNG MÔ HÌNH CHÒM SAO GIA ĐÌNH TRONG THỰC HÀNH TRỊ LIỆU
Trong khi Ivan Boszormenyi-Nagy tập trung vào sự thấu hiểu của mỗi và mọi thành viên trong gia đình đối với vị trí của những người khác trong hệ thống, cũng như nhu cầu, cam kết và quyền lợi chính đáng của họ, thì công việc thực hành của Hellingertrong Chòm sao gia đình tập trung vào việc tái hiện trật tự trong hệ thống và làm cho bức tranh về trật tự này có sẵn trong thân chủ. Trong các buổi trị liệu của mình, Ivan Boszormenyi-Nagy làm việc với tất cả các thành viên gia đình để xác định các mối ràng buộc về lòng trung thành giữa họ. Theo ông, để hiểu các chức năng của một nhóm, điều đặc biệt quan trọng là phải biết ai bị ràng buộc với ai thông qua lòng trung thành và tầm quan trọng của lòng trung thành đối với những người bị ràng buộc với nhau theo cách này. Hellinger thì đề cập đến các cam kết dựa trên lòng trung thành trong bối cảnh mô hình của mình là "tiếp nhận và đồng nhất". Trong một phiên làm việc Chòm sao gia đình, các rối rắm hệ thống có thể được xác định nhanh chóng một cách hữu hình thông qua việc thể hiện bằng cơ thể của những người đại diện (đóng vai). Dựa trên bối cảnh của giả thuyết rằng việc định vị những người đại diện phản ánh hình ảnh nội tâm của thân chủ về cấu trúc quan hệ của hệ thống gia đình mình, các khía cạnh quan trọng nhất của các mối quan hệ có thể được xác định.
Các quy tắc can thiệp và hoà giải trong một phiên Chòm sao gia đình
Các quy tắc bao gồm:
- duy trì các trật tự, cụ thể là trật tự thời gian và trật tự phân cấp thứ bậc trong gia đình,
- tôn vinh và thừa nhận quyền thuộc về hệ thống của các thành viên,
- bày tỏ những điều cấm kỵ và bộc lộ bí mật một cách cởi mở,
- đạt được sự cân bằng và tôn vinh các hành động đã được thực hiện.
Trong một phiên trị liệu Chòm sao gia đình, các quy tắc này được áp dụng bằng cách sắp xếp lại những người đại diện theo một hệ thống phân cấp có thể được nhận ra từ bên ngoài hệ thống, bằng cách thốt ra những câu nói mang tính hóa giải, hoặc các hành động và cử chỉ tính đến các quy tắc này. Ví dụ, một thân chủ có thể nói với cha mình, "Bố là bố của con và con là con gái của bố." Hoặc một đứa trẻ có thể nói với mẹ mình, "Con đã làm điều đó vì con yêu mẹ." Các hành động và cử chỉ có thể ở dạng một tư thế quì gối hay một cái cúi đầu sâu trước một thành viên gia đình chưa được tôn vinh trong quá khứ để bày tỏ lòng kính trọng với người đó hay một hành động trao trả lại một điều không thuộc về mình mà mình đã vô thức mang vác thay cho ai đó. Bằng cách này, ta có thể trả lại những món nợ đã được tiếp nhận và giải quyết sự đồng nhất với một người khác từ một thế hệ trước.
Để duy trì trật tự, tất cả những người thuộc về hệ thống phải được biết và được nêu tên. Thông tin về các thành viên bị loại trừ, những người chết trẻ và do đó được coi là không quan trọng hoặc đã bị lãng quên, đều được sử dụng trong thực hành. Thân chủ thiết lập những người thay thế cho họ và họ chiếm vị trí chính đáng của mình trong chòm sao. Ví dụ, nhà trị liệu có thể sắp xếp thứ tự sinh bằng cách xếp các anh chị em thành một hàng. Hoặc các đối tác trước đây của cha mẹ có thể được trao một vị trí trong tầm nhìn của mọi người. Một nỗ lực được thực hiện để tạo ra một giải pháp trong đó tất cả những người đại diện cảm thấy "đúng" trong vai trò của họ. Thông thường, các thành viên của hệ thống gốc được thiết lập tỏng phiên bao gồm thân chủ, tức là đứa trẻ, các anh chị em ruột và anh chi em cùng cha khác mẹ của nó (nếu có), ngay cả khi họ bị chết non hoặc đã chết: cha mẹ của nó và ông bà và anh chị em của cha mẹ hoặc ông bà nếu họ có một ý nghĩa đặc biệt nào đó (chẳng hạn như chết trẻ, bị loại trừ, v.v)
Khi kết thúc một phiên làm việc Chòm sao gia đình, thân chủ được chứng kiến với một giải pháp hóa giải thay vì vấn đề của mình. Trong chừng mực có thể, việc hoàn thành sự cân bằng trách nhiệm được truyền từ thế hệ này sang thế hệ tiếp theo đã đạt được. Thân chủ tìm thấy vị trí phù hợp với mình trong hệ thống. Họ có thể tìm thấy sự hòa giải với cha mẹ của mình và đến lượt mình, trong một bối cảnh rộng lớn hơn, hoà giải với chính số phận của mình. Khi thân chủ có thể nhìn thấy vị trí của cha mẹ ruột của chính họ trong hệ thống gốc của họ, sự rối rắm của chính họ và số phận của họ, cách họ nhìn nhận vấn đề của chính mình và thái độ của họ đối với cha mẹ được đặt vào một góc nhìn mới mang tính hoà hoà và phù hợp. Một sự bình an trong nội tâm từ đó được thiết lập.
👉 Đón đọc Kỳ 9 - Tổng kết vào 20h00 ngày 10/10/2026
🔑 Nếu bạn quan tâm đến lĩnh vực Trị liệu Xuyên Thế hệ & Liệu pháp Hệ thống, hãy theo dõi Fanpage và Website chính thức của The DomDom Healing Garden để không bỏ lỡ những bài viết tiếp theo trong chuỗi chuyên khảo này.
🔑 Toàn bộ nội dung chuyên môn của bài viết được biên soạn bởi NTL Phạm Phương Thanh và hình ảnh thiết kế của dự án thuộc về trí tuệ sáng tạo của The Domdom Healing Garden, mọi sao chép/trích dẫn vui lòng ghi rõ nguồn, nếu không Domdom xin phép liên lạc đề nghị gỡ bỏ.
Thương mến,
The DomDom Healing Garden

Lịch sự kiện
Newsletter
Hãy để lại địa chỉ email để Đom Đóm thông báo cho bạn về các hoạt động và bài viết bổ ích nhé!
Bài viết liên quan

KỲ 8: NỀN TẢNG LỊCH SỬ VÀ GIẢI PHÁP THỰC TIỄN MÔ HÌNH CHÒM SAO GIA ĐÌNH CỦA BERT HELLINGER (PHẦN 1)

[CASE STUDY] | ĐỨA CON THỨ HAI KHÔNG MUỐN MÌNH BỊ LÃNG QUÊN


